Một số vấn đề về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình sau một năm triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

Cập nhật ngày :09/10/2017
Ngày 22/6/2015 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, ngày 14/5/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Qua hơn một năm triển khai thi hành Luật và Nghị định trên địa bàn tỉnh Thái Bình công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VB QPPL) do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (HĐND, UBND) cấp tỉnh đã đạt được một số kết quả nhất định.

 

Trong thời gian qua, cơ bản các cơ quan, đơn vị đã phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trong việc soạn thảo, ban hành, thực thi VB QPPL của tỉnh. Các cơ quan, đơn vị đã kịp thời rà soát các VB QPPL cấp trên và tình hình thực tế của địa phương để tham mưu HĐND, UBND tỉnh ban hành nhiều VB QPPL, góp phần lớn vào việc quản lý nhà nước ở địa phương. Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản, từng cơ quan, đơn vị đã phát huy vai trò và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật từ khâu đề nghị, soạn thảo, góp ý, thẩm định, ban hành… Đồng thời, sau khi văn bản được ban hành, các cơ quan, đơn vị đã nghiêm túc thực hiện, đảm bảo văn bản được thực thi hiệu quả trên thực tế.
Từ ngày 01/7/2016 đến nay; HĐND, UBND tỉnh đã ban hành tổng số 69 VBQPPL (trong đó có 36 VBQPPL ban hành năm 2017 và 33 VBQPPL ban hành trong chín tháng đầu năm 2017).
Việc son thảo, lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản luôn được các cơ quan, đơn vị tham mưu ban hành văn bản quan tâm thực hiện. Sở Tư pháp đã thực hiện thẩm định 100% dự thảo VB QPPL trước khi ban hành. Nội dung báo cáo thẩm định đảm bảo các nội dung theo đúng quy định pháp luật về: Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; sự phù hợp của nội dung dự thảo; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo... Việc xem xét thông qua dự thảo các VB QPPL của tỉnh được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo đầy đủ hồ sơ, thủ tục có liên quan. Nhìn chung, các văn bản đều đảm bảo về trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức theo quy định của Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
Tuy nhiên, qua gần một năm thi hành Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì công tác tham mưu ban hành VB QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh gặp không ít khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế triển khai:
1. Về đánh giá tác động chính sách trong việc xây dựng Nghị quyết: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bổ sung một quy trình mới, mang tính kỹ thuật cao, trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đó là các chính sách đặc thù của địa phương phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh như: Đề xuất chính sách, xây dựng nội dung chính sách, quy trình xây dựng chính sách; báo cáo đánh giá tác động của chính sách, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh. Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình tính đến thời điểm hiện tại chưa có Nghị quyết nào của HĐND quy định về chính sách đặc thù của địa phương được lập đề nghị xây dựng trước khi soạn thảo dự thảo văn bản.
2. Về việc xác định VB QPPL:Theo quy định tại Điều 2 của Luật thì: “Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”. Như vậy, các VBQPPL do HĐND, UBND ban hành nhưng không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật, nếu không phải là VB QPPL thì sẽ được xem là văn bản gì (văn bản hành chính thông thường hay là quy phạm pháp luật), vấn đề này cũng là một vướng mắc lớn trong việc tham mưu xây dựng VB QPPL trên địa bàn tỉnh hiện nay. Bởi vì, các ngành chưa phân biệt rõ giữa văn bản hành chính thông thường và VB QPPL nên khi xây dựng dự thảo văn bản thì xảy ra trường hợp văn bản không phải là VB QPPL thì gửi sang Sở Tư pháp thẩm định nhưng có văn bản là VB QPPL nhưng lại không gửi sang Sở Tư pháp thẩm định nên dẫn đến tình trạng nhầm lẫn văn bản và kéo dài thời gian một quy trình ban hành văn bản.
3. Việc hạn chế quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật: Điều 14 Luật quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong xây dựng, ban hành VB QPPL, trong đó cấm hành vi “quy định thủ tục hành chính trong các văn bản quy phạm pháp luật của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Tổng Kiểm toán Nhà nước; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, trừ trường hợp được giao trong luật”. Quy định này nhằm góp phần hạn chế việc lạm dụng ban hành thủ tục hành chính của các cơ quan từ cấp bộ trở xuống, phục vụ tốt hơn lợi ích của người dân và doanh nghiệp.
          Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 4, Điều 14 của Luật thì : “Không được quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật”. Theo đó, HĐND, UBND các cấp không được quy định thủ tục hành chính trong văn bản của cấp mình, nhưng thực tế hiện nay một số VB QPPL không quy định mới về thủ tục hành chính nhưng viện dẫn hoặc chép thủ tục hành chính của trung ương vào trong VB QPPL tại địa phương và những văn bản này yêu cầu cần phải đánh giá tác động thủ tục hành chính. Như vậy, quá trình ban hành một VB QPPL sẽ mất nhiều quy trình và nhiều thời gian hơn.
4. Về thẩm định VB QPPL: Trước khi có Luật Ban hành VB QPPL năm 2015 thì Nghị quyết của HĐND tỉnh ban hành không qua Sở Tư pháp thẩm định. Khi Luật này có hiệu lực thi hành thì công tác thẩm định Nghị quyết của HĐND tỉnh bước đầu đi vào nề nếp; vì vậy còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thẩm định Nghị quyết của HĐND như: Cơ quan xây dựng dự thảo không chủ động gửi Sở Tư pháp thẩm định mà gửi trực tiếp sang các Ban thuộc HĐND đề nghị thẩm tra, sau khi các Ban yêu cầu làm đúng quy trình theo yêu cầu của Luật thì lại quay lại đề nghị Sở Tư pháp thẩm định. Đồng thời, văn bản trước khi gửi sang các Ban thuộc HĐND tỉnh thì đã được UBND tỉnh ký Tờ trình; do đó khi Sở Tư pháp có ý kiến tại Báo cáo thẩm định thì không tiếp thu vì chỉ coi thẩm định là hình thức; chỉ sau khi có ý kiển thẩm tra thì mới tiếp thu, chỉnh sửa.
Đối với các Quyết định của UBND tỉnh thì theo quy định của Luật, Sở Tư pháp chỉ thẩm định một lần trước khi trình UBND tỉnh ký ban hành nhưng ở Thái Bình hiện nay thường xuyên Sở Tư pháp phải thẩm định từ hai đến ba lần đối với một dự thảo do các sở, ngành khi có báo cáo thẩm định tiến hành chỉnh sửa sau đó gửi đến Sở Tư pháp yêu cầu thẩm định lại; sau phiên họp của UBND tỉnh lại yêu cầu thẩm định lần nữa. Như vậy, gây áp lực công việc cho cơ quan thẩm định VB QPPL và hạn chế đi tính sáng tạo của cơ quan xây dựng dự thảo, mất thời gian và công sức của nhiều người, nhiều lần đối với một dự thảo văn bản
Từ những vướng mắc trên cần có một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành VB QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh:
Thứ nhất, việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gắn với việc rà soát, đánh giá, xem xét, dự kiến bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm kịp thời loại bỏ những quy định lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, không đúng thẩm quyền, không minh bạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, từng bước đơn giản hóa, hiện đại hóa hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước.
Thứ hai, đối với việc sửa đổi, bổ sung VB QPPL thực hiện theo hướng: Đối với các văn bản có nội dung sửa đổi, bổ sung nhỏ, đơn giản, không làm thay đổi chính sách hoặc chỉ sửa đổi về kỹ thuật thì đưa nội dung sửa đổi, bổ sung vào dự án văn bản có liên quan đang được soạn thảo; đối với các văn bản có nội dung sửa đổi, bổ sung lớn, phức tạp, làm thay đổi các chính sách thì các sở, ngành quản lý thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản lập đề nghị xây dựng văn bản sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định của Luật năm 2015.
Thứ ba, các cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, cần chủ động báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân đối với những vấn đề quan trọng, phức tạp, có ý kiến khác nhau cần phải được xử lý kịp thời, thống nhất ngay từ đầu để bảo đảm chất lượng và tiến độ của dự án. Trong quá trình soạn thảo cần xác định rõ những nội dung trong luật, pháp lệnh giao quy định chi tiết, cơ quan có trách nhiệm soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết, hiệu lực của nội dung giao quy định chi tiết. Đồng thời, tăng cường theo dõi, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động, sự tham gia và ý thức trách nhiệm của từng thành viên Ban soạn thảo dự án; tránh trường hợp một văn bản phải xây dựng lại nhiều lần và thẩm định nhiều lần đối với một dự thảo văn bản.
Thứ tư, nghiêm túc thực hiện đúng yêu cầu về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết theo đúng quy định của Luật. Chủ động phối hợp với Sở Tư pháp rà soát các nội dung giao quy định chi tiết, kịp thời đề xuất xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết ngay sau khi luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và gửi về Sở Tư pháp để tổng hợp, lập Danh mục, trình Thường trực HĐND, Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định; tuân thủ nghiêm các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP liên quan đến thời hạn và hồ sơ gửi thẩm định, thẩm tra các VB QPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành.
                                            Nguyễn Thị Yến                          
 
 
Thông báo - Yết thị
Số lượt truy cập