Một số khó khăn trong công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Cập nhật ngày :16/07/2018
Rà soát văn  bản quy phạm pháp luật (QPPL) là việc xem xét lại các văn bản QPPL đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trước đó nhằm phát hiện những văn bản, những quy phạm trái pháp luật, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước để xử lý bằng các hình thức thích hợp như  sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành, đồng thời kiến nghị các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản mới để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội.

 

 Hệ thống hoá văn bản được hiểu là việc rà soát, xử lý các khiếm khuyết của văn bản và tập hợp sắp xếp những văn bản QPPL đó thành hệ thống pháp luật thống nhất theo những tiêu chí nhất định như cơ quan ban hành, thời gian ban hành,  lĩnh vực điều chỉnh phù hợp về nội dung và hình thức theo yêu cầu định sẵn.
Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh những năm qua đã có bước tiến đáng kể, hàng năm đã rà soát và công bố danh mục văn bản hết hiệu lực thi hành làm cơ sở, căn cứ để triển khai các nhiệm vụ tại địa phương. Tuy nhiên, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Thái Bình vẫn gặp một số khó khăn, bất cập:
Thứ nhất, quá trình rà soát, hệ thống hóa các văn bản liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực được ban hành qua các thời kỳ trên địa bàn tỉnh, đòi hỏi phải tập hợp được đầy đủ các văn bản phục vụ rà soát, vì vậy việc tập hợp văn bản để tra cứu phục vụ cho rà soát, hệ thống hóa rất khó khăn. Luật, Pháp lệnh, Nghị định và các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành ngày càng nhiều, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, tính ổn định chưa cao. Đội ngũ cán bộ pháp chế giúp Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL theo Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ chưa được kiện toàn, bổ sung, hầu hết các đơn vị còn bố trí cán bộ kiêm nhiệm. Một số cán bộ làm công tác pháp chế chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, chưa đầu tư nhiều trí tuệ và thời gian cho công tác tham mưu văn bản nên đã ảnh hưởng đến chất lượng văn bản.
Thứ hai, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL là công việc phức tạp, khối lượng công việc lớn đòi hỏi phải có một lực lượng cán bộ, công chức đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Thời gian qua, các cấp chính quyền địa phương tại Thái Bình cũng đã quan tâm kiện toàn về tổ chức, biên chế cho ngành Tư pháp, song cho đến thời điểm này, tổ chức biên chế của cơ quan được giao trách nhiệm rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Đối với Sở Tư pháp, nhiệm vụ rà soát, hệ thống hoá văn bản được giao cho Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản thực hiện, song với số lượng biên chế 05 người  cùng với khối lượng công việc tương đối nhiều ở các mảng công tác khác như xây dựng, kiểm tra văn bản thì công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL mới chỉ được thực hiện định kỳ 01 lần/01 năm và rà soát khi có yêu cầu của các Bộ chuyên ngành mà chưa được tiến hành thường xuyên. Đối với Phòng Tư pháp các huyện, thành phố, hiện nay bình quân mỗi Phòng Tư pháp có từ 2 – 3 biên chế do đó hầu hết các Phòng Tư pháp không bố trí được cán bộ chuyên trách  công tác này và cũng chỉ thực hiện định kỳ 01 lần/01 năm và khi có yêu cầu. Đối với Ban Tư pháp các xã, thị trấn, bình quân chỉ có 01 đến 02 biên chế cùng với khối lượng công việc lớn mà cán bộ tư pháp ở cấp xã phải đảm nhiệm nên công tác này  cũng không được quan tâm thực hiện.
Thứ ba, hiện nay quy trình rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL được thực hiện theo quy đinh tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 15/4/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, quy trình rà soát văn bản gồm các bước cơ bản như lập kế hoạch rà soát; thu thập văn bản QPPL để rà soát và các văn bản để đối chiếu; thực hiện các thao tác nghiệp vụ cụ thể như đọc, nghiên cứu văn bản, đối chiếu, so sánh văn bản, nhận biết các dạng khiếm khuyết của văn bản; lập danh mục văn bản gồm danh mục chung,  danh mục văn bản còn hiệu lực, danh mục văn bản hết hiệu lực, danh mục văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ, danh mục văn bản cần ban hành mới; xử lý kết quả rà soát và xây dựng báo cáo kết quả rà soát. Quy trình thực hiện hệ thống hoá gồm các bước cơ bản như lập kế hoạch hệ thống hoá văn bản QPPL; thu thập, tập hợp và phân loại văn bản QPPL; thực hiện các thao tác nghiệp vụ cụ thể như các thao tác nghiệp vụ của việc rà soát văn bản;  công bố kết quả hệ thống hoá và xuất bản các tập hệ thống hoá. Thực tế cho thấy, công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL mặc dù đã được các sở, ngành quan tâm thực hiện, song hầu hết các sở, ngành không thực hiện được theo đúng quy trình nêu trên, hầu hết đều chỉ dừng lại ở việc tập hợp các văn bản sau đó gửi về Sở Tư pháp; còn lại công tác rà soát, lập các danh mục, hệ thống hóa văn bản QPPL đều do Sở Tư pháp thực hiện. Bên cạnh đó, nhiều văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp nhưng các địa phương chưa kịp thời phát hiện; việc xử lý văn bản trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo chưa được triệt để; tỷ lệ văn bản được kiến nghị, xử lý so với số lượng văn bản được phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật còn thấp…
Thứ tư, Thông tư số 122/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL còn chung chung, khó triển khai thực hiện dẫn đến nhiều cơ quan chưa dành kinh phí thỏa đáng cho công tác này.
Thứ năm, đối với công tác hệ thống hóa văn bản QPPL, việc tập hợp được đầy đủ văn bản phục vụ hệ thống hóa văn bản gặp nhiều khó khăn do việc lưu trữ các văn bản thuộc nguồn văn bản phục vụ rà soát, hệ thống hóa theo quy định còn nhiều bất cập, nhiều đơn vị không xác định được chính xác các văn bản thuộc trách nhiệm hệ thống hóa của đơn vị mình... dẫn đến tình trạng có văn bản không còn phù hợp với văn bản của cấp trên nhưng việc tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế chưa kịp thời./.

Nguyễn Thị Yến

 
Thông báo - Yết thị
Số lượt truy cập