A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xóa án tích và thủ tục xóa án tích theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành

Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích; nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. 

Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015 định nghĩa về người được xóa án tích coi như chưa bị kết án đã bỏ đi quy định về việc phải “được Tòa án cấp giấy chứng nhận” như trong Bộ luật hình sự trước đây. Với quy định này, Bộ luật hình sự 2015 đã giải quyết được những khó khăn đối với người chấp hành xong bản án; rút bớt các thủ tục, đồng thời chuyển trách nhiệm cập nhật thông tin về án tích của người bị kết án sang cho các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (khoản 4 Điều 70). Quy định rõ 05 trường hợp (Khoản 2 Điều 69 và Điều 107) người bị kết án không bị coi là có án tích. Đó là: (1) Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; (2) Người được miễn hình phạt; (3) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; (4) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; (5) Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Như vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi đối tượng xác định mang án tích so với trước đây. Theo đó, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ khi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và bị áp dụng hình phạt mới phải mang án tích và đối với họ được áp dụng hình thức xóa án tích đương nhiên. Đối với người đã thành niên thì họ phải mang án tích trong trường hợp bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị kết án do lỗi cố ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.                                                                                                                                                                                                      

1. Các trường hợp được xóa án tích

1.1. Đương nhiên được xóa án tích (Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Một người được coi là đương nhiên được xóa án tích khi họ không phạm phải các tội về xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh và kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định của pháp luật, chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án  (nếu có).

1.2. Do Tòa án quyết định

Thứ nhất, (theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017), căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án, Tòa án sẽ ra quyết định xóa án tích với các tội phạm về xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII), tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương XXVI) khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án (nếu có).

Thứ hai, trong một số trường hợp đặc biệt - xóa án tích sớm (theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017), đó là người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định của pháp luật.

2. Cách tính thời gian xóa án tích

Thời hạn để tính xóa án tích được quy định chi tiết tại Điều 70, 71 của Bộ luật Hình sự 2015. Trong đó, Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt. Thời hạn để đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của tòa án căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Cụ thể:

2.1. Với trường hợp đương nhiên được xóa án tích:

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án

2. 2.Với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

+ 01 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải không giam giữ,  phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

+ 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án;

+ Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội thì được áp dụng thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

+ Khi chưa được xóa án tích mà thực hiện hình vi phạm tội mới thì thời hạn xóa án tích được tính lại như ban đầu.

3.Thủ tục để được xóa án tích

Theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thủ tục để được xóa án tích được quy định như sau:

3.1.Thứ nhất, trường hợp đương nhiên được xóa án tích

Người đương nhiên xóa án tích làm đơn yêu cầu (Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp) Sở Tư pháp, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia – Bộ Tư pháp  cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật lý lịch tư pháp 2009. Phiếu lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp,  Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Phiếu lý lịch tư pháp gồm 2 loại: Phiếu lý lịch tư pháp số 1: cấp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; Phiếu lý lịch tư pháp số 2: cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

3.2.Thứ hai, trường hợp do Tòa án quyết định

Theo đó, người bị kết án phải gửi đơn yêu cầu xóa án tích đối với các tội phạm về xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh và xóa án tích sớm (trường hợp đặc biệt) đối với các tội danh còn lại đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án (có nhận xét của chính quyền địa phương hoặc nơi làm việc, học tập) để đề nghị việc xóa án tích.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận được đơn của người bị kết án căn cứ quy định Điều 369 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xem xét  đối với những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật hình sự. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án.

Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích. Trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích.

Mạnh Dương


Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thăm dò ý kiến
Theo bạn thông tin nội dung của website thế nào?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 771
Hôm qua : 525
Tháng 08 : 5.999
Năm 2022 : 203.147